Tổng quan các tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế: USDA Organic, EU Organic và JAS

13 Jul 2026

Tổng quan các tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế: USDA Organic, EU Organic và JAS

Khi hướng tới xuất khẩu, nhà sản xuất hữu cơ thường phải làm quen với nhiều bộ quy định cùng lúc. Ba khung được nhắc đến nhiều nhất là chương trình hữu cơ quốc gia của Hoa Kỳ (USDA Organic, vận hành theo National Organic Program – 7 CFR Part 205), quy định hữu cơ của Liên minh châu Âu (EU Organic, hiện là Quy định (EU) 2018/848 áp dụng từ ngày 1/1/2022, thay cho Quy định 834/2007) và tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản về sản phẩm hữu cơ (JAS Organic, do Bộ Nông, Lâm, Ngư nghiệp Nhật Bản quản lý). Cả ba đều tham chiếu tới bộ hướng dẫn của Codex Alimentarius (CAC/GL 32-1999) về thực phẩm hữu cơ, nên phần khung nguyên tắc rất gần nhau.

Những nguyên tắc chung

  • Không sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tổng hợp, trừ một danh mục hẹp các chất được phép.
  • Không sử dụng sinh vật biến đổi gen và sản phẩm từ sinh vật biến đổi gen.
  • Có giai đoạn chuyển đổi trước khi sản phẩm được chứng nhận, tính từ lần cuối cùng sử dụng vật tư bị cấm.
  • Tách biệt rõ ràng giữa dòng hữu cơ và không hữu cơ trong toàn chuỗi sản xuất, sơ chế, bảo quản và vận chuyển.
  • Lưu trữ hồ sơ đầy đủ, có kế hoạch sản xuất hữu cơ bằng văn bản và chịu đánh giá bởi bên thứ ba được công nhận.

Việt Nam cũng đi theo logic này. Bộ tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11041 về nông nghiệp hữu cơ (bắt đầu công bố từ cuối năm 2017, gồm phần yêu cầu chung, trồng trọt, chăn nuôi và các phần cho gạo, chè, sữa, tôm…) được xây dựng hài hòa với Codex và hướng dẫn của IFOAM. Nghị định 109/2018/NĐ-CP quy định sản phẩm hữu cơ lưu thông tại Việt Nam phải được chứng nhận phù hợp TCVN về nông nghiệp hữu cơ hoặc phù hợp tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài được áp dụng trong sản xuất sản phẩm hữu cơ.

Ba khung khác nhau ở đâu

Tiêu chíUSDA Organic (Hoa Kỳ)EU OrganicJAS Organic (Nhật Bản)
Văn bản gốc7 CFR Part 205 (NOP)Quy định (EU) 2018/848Luật JAS và quy chuẩn kèm theo
Cơ quan quản lýBộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA – AMS)Ủy ban châu Âu và cơ quan có thẩm quyền của từng nước thành viênBộ Nông, Lâm, Ngư nghiệp Nhật Bản (MAFF)
Giai đoạn chuyển đổiĐất không sử dụng chất cấm trong ít nhất 36 tháng trước vụ thu hoạch hữu cơ đầu tiên2 năm với cây hằng năm, 3 năm với cây lâu nămTương tự EU: 2 năm với cây hằng năm, 3 năm với cây lâu năm
Ghi nhãnPhân hạng "100% organic", "organic" (≥95%), "made with organic…" (≥70%); được dùng con dấu USDA Organic khi đạt mức ≥95%Gọi là "hữu cơ" khi ≥95% thành phần nông nghiệp là hữu cơ; bắt buộc dùng logo lá EU và mã số tổ chức chứng nhậnĐược gắn JAS Mark khi đạt yêu cầu; sản phẩm không có JAS Mark không được ghi "有機/organic" khi bán tại Nhật
Danh mục vật tư được phépNational List (7 CFR 205.601–205.606)Phụ lục của quy định thực thiDanh mục kèm quy chuẩn JAS

Ngoài chi tiết trong bảng, các hệ thống còn khác nhau về yêu cầu vùng đệm, xử lý sau thu hoạch, tỷ lệ và cách khai báo thành phần trong sản phẩm chế biến, và về quy định với bao bì tiếp xúc sản phẩm.

Cơ chế thừa nhận lẫn nhau

Điểm khiến nhà xuất khẩu hay nhầm là: một chứng nhận không tự động có giá trị ở mọi thị trường. Giữa một số nền kinh tế lớn có thỏa thuận tương đương (equivalence), cho phép sản phẩm được chứng nhận theo hệ này được bán như hữu cơ ở hệ kia, thường kèm điều kiện. Hoa Kỳ và EU có thỏa thuận tương đương từ năm 2012; Hoa Kỳ và Nhật Bản từ năm 2014; EU và Nhật Bản cũng công nhận lẫn nhau ở phạm vi nhất định. Với hàng từ Việt Nam, con đường phổ biến là được đánh giá bởi tổ chức chứng nhận đã được cơ quan quản lý của thị trường đích chỉ định hoặc công nhận cho tiêu chuẩn đó (ví dụ tổ chức được công nhận đánh giá theo NOP hoặc theo quy định EU).

Ý nghĩa thực tế với nhà sản xuất

Trên thực địa, phần lớn yêu cầu là giống nhau, nên một hệ thống quản lý tốt thường đáp ứng được nhiều tiêu chuẩn cùng lúc. Việc chọn chứng nhận nào nên xuất phát từ thị trường đích: bán đi đâu thì cần chứng nhận được nơi đó chấp nhận. Nhiều trang trại và doanh nghiệp xuất khẩu lựa chọn chứng nhận đồng thời theo hai hoặc ba tiêu chuẩn để giữ linh hoạt đầu ra, chấp nhận chi phí đánh giá cao hơn để đổi lấy khả năng bán vào nhiều thị trường.

Chi phí và công sức khi chứng nhận nhiều tiêu chuẩn

Chứng nhận song song không phải là nhân đôi chi phí, nhưng cũng không rẻ. Phần lớn tổ chức chứng nhận quốc tế có thể đánh giá một trang trại theo nhiều tiêu chuẩn trong cùng một chuyến đi hiện trường, nên chi phí đi lại và thời gian được chia sẻ. Khoản tăng thêm chủ yếu nằm ở phí cấp mỗi loại giấy chứng nhận, ở việc rà soát danh mục vật tư theo từng danh mục cho phép khác nhau, và ở hồ sơ ghi nhãn phải làm riêng cho từng thị trường. Doanh nghiệp nên yêu cầu tổ chức chứng nhận báo giá trọn gói cho tổ hợp tiêu chuẩn mình cần, thay vì cộng dồn từng bảng giá đơn lẻ.

Những sai lầm thường gặp khi chọn tiêu chuẩn

  • Chứng nhận trước, tìm thị trường sau: bỏ tiền lấy một chứng nhận rồi mới phát hiện người mua tiềm năng lại yêu cầu tiêu chuẩn khác.
  • Nhầm "được chứng nhận" với "được chấp nhận nhập khẩu": có giấy chứng nhận theo một tiêu chuẩn không đồng nghĩa lô hàng đương nhiên thông quan như hữu cơ ở thị trường đích; còn phụ thuộc thỏa thuận tương đương và thủ tục nhập khẩu.
  • Chọn tổ chức chứng nhận chưa được thị trường đích công nhận: giấy chứng nhận khi đó không có giá trị cho mục tiêu xuất khẩu ban đầu.
  • Bỏ qua tiêu chuẩn trong nước: nếu vẫn bán một phần sản lượng tại Việt Nam thì phải tuân thủ Nghị định 109/2018/NĐ-CP về ghi nhãn và logo.

Chuẩn bị từ gốc

Dù nhắm tới tiêu chuẩn nào, các nền tảng đều giống nhau: bản đồ và lịch sử canh tác của từng thửa trong vài năm gần nhất, nhật ký đồng ruộng, hồ sơ vật tư đầu vào kèm bằng chứng hợp lệ, quy trình kiểm soát nhiễm chéo và kế hoạch sản xuất hữu cơ bằng văn bản. Với thị trường trong nước, cần thêm việc tuân thủ Nghị định 109/2018/NĐ-CP về ghi nhãn, logo và truy xuất nguồn gốc. Xây dựng tốt những nền tảng này giúp việc mở rộng sang một tiêu chuẩn mới về sau nhẹ nhàng hơn nhiều, vì chủ yếu là bổ sung tài liệu chứ không phải thay đổi cách canh tác.

Tham khảo